Một cuộc chiến bạo tàn
Xuyên suốt trong tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”, Bảo Ninh khắc hoạ lại diện mạo một cuộc chiến mà lâu nay lịch sử vẫn gọi tên là cuộc chiến thần thánh. Đúng, đó là cuộc chiến thần thánh nhưng những bạo tàn của nó thì hậu thế ít ai hình dung được. Chiến tranh đã biến một vùng đất thành Truông Gọi Hồn, xoá sổ không biết bao tiểu đội. Chiến tranh đã biến con người thành “một con vượn rất to, phải bốn người kéo ra mới khiêng nổi…nhưng đến khi ngả nó ra, cạo sạch bộ lông thì…đó lại là một người đàn bàn với cặp mắt trợn ngược”.
Chiến tranh đã biến những người lính vốn là những người nông dân giản dị, dịu hiền, có cách nhìn đời nhân hậu trở thành những người có thói hiếu sát, máu hung tàn, tâm lý thú rừng, ý chí tối tăm và lòng dạ gỗ đá. Bởi thứ họ phải trải qua là “máu tung xối, chảy toé, ồng ộc, nhoe nhoét” “đạn bắn phọt óc con người” “những tấm ni lông quấn đầy tử sĩ”…Một chân trời chết chóc mênh mang, vô tận những nấm mồ.
Trong tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”, người lính bước ra khỏi cuộc chiến không ai sống nổi một cuộc đời bình thường. Họ điêu tàn, đứt gãy, chìm sâu trong nỗi ám ảnh của chết chóc, đạn bom. Như nhân vật Kiên, bị ký ức chiến tranh bóp nghẹt. Lúc nào anh cũng “sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng”. Thời đại mới đối với Kiên không phải là những hy vọng về tương lai tốt đẹp mà tâm hồn mỗi ngày thêm hoang phế, vật vờ toàn những hồn ma bóng quỷ. Anh mắc kẹt lại trên cõi đời này.
Có lẽ bởi viết về chiến tranh với những góc nhìn và sự thật trần trụi như vậy nên tác phẩm ra đời năm 1987, xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990. Sau đó, tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, rồi bị cấm từ năm 1993 đến 2005.

“Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp của dòng giống con người”.
Vì sao “Nỗi buồn chiến tranh” vẫn gây tranh cãi?
Năm 2025, tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” được vinh danh trong danh sách 50 tác phẩm văn học – nghệ thuật tiêu biểu sau thống nhất. Một lần nữa, tác phẩm lại thổi bùng lên tranh cãi. Một bên cho rằng, quá buồn, quá ám ảnh, không phù hợp để vinh danh tầm tiêu biểu quốc gia. Thậm chí một số cá nhân còn đánh giá nội dung có tính xuyên tạc, đồi truỵ, bôi nhọ hình ảnh người lính. Một bên cho rằng đây là tác phẩm hay nhất viết về chiến tranh, thời hậu chiến và người lính. Vậy ai đúng, ai sai? Ai mới là người có lý?
Nhìn lại những tranh cãi xoay quanh tác phẩm, chúng ta thấy bởi nó chạm đến phần gai góc nhất trong ký ức chiến tranh – nơi nỗi đau lấn át hào quang, nơi những người lính không phải lúc nào cũng khoác áo anh hùng. Họ cũng là những sinh linh nhỏ bé, đáng thương, trần trụi giữa sự sống và cái chết. “Nỗi buồn chiến tranh” buộc chúng ta phải đối diện với một hiện thực lâu nay thường bị làm mờ đi vì sự tôn kính dành cho quá khứ anh hùng. Nhưng tác phẩm cũng không vì thế mà hạ thấp cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Trái lại tác phẩm càng làm cho hậu thế thấy được giá trị của những hy sinh, mất mát. Nó khiến chúng ta hiểu rằng để có được hòa bình hôm nay, đất nước đã phải đi qua những đêm tối đến mức không thể nào tả xiết.
Sau gần 40 năm, tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” không chỉ cho chúng ta hiểu thêm về chiến tranh, về con người mà còn buộc chúng ta – những người đang sống trong hòa bình – phải tự hỏi: liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn thẳng vào những mất mát bi tráng của cuộc chiến hay không?

Leave a Reply